Thứ Ba, 19 tháng 9, 2017

THUYẾT CHIM LẠC VÀ NGƯỜI LẠC VIÊT: SAI LẦM CƠ BẢN CỦA GS ĐÀO DUY ANH

Phan Duy Kha
P1070295Việc coi con chim Lạc gắn liền với hiện tượng di cư của người Lạc Việt từ phương Bắc đến miền Bắc nước ta để giải thích nguồn gốc người Việt cổ là điểm mấu chốt trong giả thuyết của Giáo sư Đào Duy Anh (GS ĐDA). Vậy tại sao lại có con chim Lạc, chim Lạc là chim gì?
1- Tại sao lại có tên là chim Lạc?
Trong lịch sử thành văn của nước ta cũng như trong kho tàng thư tịch cổ Trung Hoa, chúng ta không hề gặp một chữ nào ghi về con chim Lạc. Năm 1902, trống đồng Ngọc Lũ là chiếc trống đồng đầu tiên được phát hiện ở miền Bắc nước ta. Trên chiếc trống đồng đó có hình khắc rất nhiều con chim ở tư thế bay và đậu.

Thứ Năm, 14 tháng 9, 2017

THƠ VỀ NGUYỄN DU VÀ TRUYỆN KIỀU

Nguyễn Du (1765- 1820) là Đại thi hào dân tộc. Truyện Kiều là kiệt tác văn chương bất hủ của mọi thời đại. Cuộc đời chìm nổi của nàng Kiều qua thể hiện tài tình của Nguyễn Du đã làm rơi bao nước mắt của lớp lớp thế hệ người Việt. Thơ viết về Nguyễn Du và Truyện Kiều xưa nay rất nhiều, nếu sưu tập lại sẽ thành một cuốn sách dày. Ở đây chỉ chọn một số bài tiêu biểu. Có thể mỗi người có sự lựa chọn khác nhau. Đây chỉ là sự lựa chọn chủ quan của cá nhân.
Trong một số bài thơ có tả phần mộ Nguyễn Du “sè sè nắm đất bên đường” như mộ Đạm Tiên. Đó là do các tác giả đến thăm khi khu mộ chưa được tôn tạo. Chính tôi (PDK) cũng đã từng đến thăm mộ Nguyễn Du vào năm 1963 và thấy cảnh hiện ra trước mắt đúng như vậy (xin xem “Một chuyến tham quan đặc biệt” ). Lăng mộ Nguyễn Du mới được tôn tạo vào năm 1989 .
Sau đây là một số bài thơ về Nguyễn Du và Truyện Kiều do Phan Duy Kha sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu .

NHỮNG BÀI THƠ CA NGỢI VỊNH HẠ LONG

NHỮNG BÀI THƠ CA NGỢI VỊNH HẠ LONG
Xin mời bạn đọc một số bài thơ xưa nay ca ngợi Hạ Long. Có những bài thơ xuất hiện từ thời Trần, cách đây hơn 7 thế kỷ, cũng có những bài mới xuất hiện gần đây. Xin được sắp xếp theo thứ tự thời gian . Cũng cần phải công bằng mà nói rằng, vịnh Hạ Long của chúng ta quá đẹp. Những bài thơ, dù là của những Nhà thơ lớn, cũng chưa nêu được cái thần của vẻ đẹp đó. Dường như ngôn ngữ bất lực trước vẻ đẹp mê hồn đến sửng sốt của vịnh Hạ Long. Đành phải chờ các thiên tài của thế hệ mai sau vậy.
PDK
***
Trần Thánh Tông (1240 – 1290)
HÀNH YÊN BANG PHỦ
Triêu du phù vân kiệu
Mộ túc minh nguyệt loan
Hốt nhiên đắc giai thú
Vạn tượng sinh hào đoan.

Thứ Hai, 29 tháng 5, 2017

GIẢI MÃ CUỘC HANH BINH THẦN TỐC CỦA QUANG TRUNG



tranh-ve-vua-quang-trungGIẢI MÃ CUỘC HÀNH BINH THẦN TỐC CỦA QUANG TRUNG
Theo Lê Triều dã sử thì khi tiến quân ra Thăng Long đánh quân Thanh, vua Quang Trung đã bày cho quân lính cứ ba người một tốp, thay phiên võng (cáng) nhau đi, thành ra quân trẩy liên miên không phải dừng mà ai nấy đều được nghỉ, do đó quân Tây Sơn hành quân cực kỳ thần tốc.
Nhiều người tin rằng đã có một cách hành binh đặc biệt như thế thật. Tức là cứ hai người võng (cáng) một người, thay phiên nhau mà đi, nên suốt dọc đường ra Bắc lúc nào cũng hành quân liên tục và lúc nào cũng có người được nằm võng nghỉ cho lại sức.
Nhưng cũng có nhiều người tỏ ra nghi ngờ cách hành binh này. Bởi vì mỗi người lính ra trận, ngoài binh khí bắt buộc phải mang theo (giáo mác, hỏa hổ…), người lính còn phải mang áo quần, tư trang, gạo nước (gọi chung là quân trang, quân dụng, quân lương) cho nên trên vai mỗi người ít nhất cũng phải 20-30 kg. Rồi lại còn phải trèo đèo lội suối nữa, vậy thì còn sức đâu mà cáng người. Không khéo vì phải cáng nhau mà làm chậm tốc độ hành quân, chứ nhanh hơn làm sao được. Mà người nằm trên cáng cũng chẳng cảm thấy thoải mái gì, thà đi bộ còn dễ chịu hơn? Trong tác phẩm nghiên cứu “Tìm hiểu thiên tài quân sự Nguyễn Huệ”, các tác giả Nguyễn Lương Bích -Phạm Ngọc Phụng đã phân tích rất có lý: “Có tài liệu như Lê Triều dã sử nói rằng, trong cuộc tiến quân từ Phú Xuân ra Bắc lần này, để hành binh nhanh chóng, Nguyễn Huệ đã cho quân dùng cáng, ba người một tốp thay phiên cáng nhau, khiến mọi người đều đi nhanh mà không bị mỏi”. Sự việc này không chắc có thật. Bởi vì cáng nhau mà đi thì không thể đi nhanh được bằng đi bộ rảo cẳng, càng không thể đi nhanh đều đặn trong thời gian nhiều ngày liền. Cho nên, chúng tôi cho rằng việc cáng nhau mà đi chỉ là câu chuyện người đời sau viết sách tưởng tượng ra để giải thích tốc độ hành quân mau lẹ của quân Tây Sơn. Hoặc giả có những bộ phận quân đội dùng cáng chuyên chở quân trang, quân dụng, quân lương… để đem đi được nhiều nên nhân dân trông thấy, tưởng đoàn quân cáng nhau để hành quân nhanh. (Tìm hiểu thiên tài quân sự Nguyễn Huệ, Nxb Quân đội Nhân dân, 2003, tr 246-247). Xin ghi thêm để bạn đọc tham khảo.

Thứ Sáu, 26 tháng 5, 2017

LẠM BÀN THẾ SỰ: TRUNG HOA, BẠN HAY THÙ ?

LẠM BÀN THẾ SỰ: TRUNG HOA, BẠN HAY THÙ ?
Trung Hoa là một quốc gia láng giềng “núi liền núi, sông liền sông” của chúng ta. Anh bạn này có một thói xấu từ rất lâu đời là cá lớn nuốt cá bé, luôn luôn rình rập chờ cơ hội thuận lợi là thôn tính các nước láng giềng để biến thành quận huyện của họ. Lịch sử lâu dài của Trung Hoa là lịch sử chinh phục các nước láng giềng, mà họ gọi là “bình thiên hạ” (Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ). Vì vậy, có rất nhiều tỉnh, nhiều vùng của Trung Quốc ngày nay vốn là các quốc gia cổ xưa: Tỉnh Tứ Xuyên vốn là đất nước Ba, nước Thục; Tỉnh Quý Châu vốn là nước Dạ Lang, tỉnh Vân Nam vốn là nước Đại Lý, Mãn Châu là đất Mãn Châu quốc, Tây Tạng, Tân Cương cũng là các quốc gia xưa, khu tự trị Nội Mông rộng lớn vốn là đất Mông Cổ. 
Việt Nam ta trước đây bị một ngàn năm Bắc Thuộc tức cũng là một quận huyện của họ. Họ cử các Thứ sử, Thái thú sang cai trị.Phải đến năm 938, với chiến thắng của Ngô Quyền, ta mới dành được độc lập thật sự. Nhưng cũng từ đó đến nay, họ chưa bao giờ từ bỏ dã tâm, từ bỏ tham vọng thôn tính nước ta. Ông cha ta ngày xưa, rất kiên cường, nhưng cũng rất khôn khéo, thậm chí cả nhẫn nhục (đánh thắng họ nhưng vẫn phải triều cống, giết Liễu Thăng phải đền “người vàng”), nhưng quyết không để mất chủ quyền thiêng liêng, mất một tấc đất nào cho họ.
Sống cạnh một anh láng giềng xấu bụng như vậy, lịch sử Việt Nam là lịch sử giữ nước, lịch sử bảo vệ đất đai. Dù có mất của (triều cống), nhưng quyết không để mất đất

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2016

CỐ ĐÔ NGÀN HỐNG MỞ ĐẦU THỜI ĐẠI DỰNG NƯỚC

 
NHÂN NHÀ SỬ HỌC BÙI THIẾT CÓ TẶNG TÔI CUỐN "VIỆT THƯỜNG THỊ" (Phát hiện về nhà nước cổ đại sớm nhất trong lịch sử Việt Nam), Phan Duy Kha xin giới thiệu một bài viết cách đây trên 20 năm, sau đó đã in lại trong cuốn NHÌN VỀ THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG (2009) như một tiếng nói đồng tình với quan điểm của Nhà sử học Bùi Thiết. 
Cho đến nay, thời kỳ Hùng Vương được các nhà sử học khẳng định là thời kỳ có thật trong lịch sử. Tuy nhiên, không có một tư liệu thành văn nào ghi chép về thời kỳ này cho nên chúng ta tạm bằng lòng với việc “dựng” lại lịch sử bằng các truyền thuyết dân gian , dân tộc học, ngôn ngữ học, địa phương học, . . kết hợp với kết quả của ngành Khảo cổ học. Vì vậy, nếu đề cập tới thời kỳ Tiền Hùng Vương thì còn khó khăn gấp bội phần. Tuy nhiên, chúng ta cắt nghĩa thế nào về những ghi chép của các sử gia Trung Hoa về một đất nước Việt Thường xuất hiện rất lâu trước thời kỳ Hùng Vương ? Chúng ta cắt nghĩa thế nào về một cố đô Ngàn Hống xuất hiện trước khi có Kinh đô Văn Lang, nhất là khi những ghi chép đó lại xuất hiện trong Ngọc phả Hùng Vương, như một sự truy niệm về kinh đô cũ ? Xin cung cấp cho các nhà nghiên cứu và  bạn đọc hai tư liệu trên.

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2016

GIẢ THUYẾT VỀ SỰ TỒN TẠI CỦA QUỐC GIA VIỆT THƯỜNG TRONG BUỔI ĐẦU DỰNG NƯỚC


KS. PHAN DUY KHA

“Đời Đào Đường, Nam di có Việt Thường thị (VTT) qua nhiều lần thông dịch đến hiến một con rùa thẩn. Rùa được nghìn tuổi, rộng hơn ba thước, trên lưng có chữ khoa đẩu, chép việc từ lúc khai thiên lập địa đến nay. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là lịch rùa” (Sách Thông Chí -Trịnh Tiêu đời Tống).
Bùi Dương Lịch (1757 – 1828) – một nhà thơ, đồng thời là nhà biên khảo lịch sử. Ông đỗ Hoàng giáp khoa thi cuối cùng của triều Lê (1787). Tác phẩm của ông để lại cho đời rất nhiều, trong đó có cuốn Nghệ An ký. Đây là một cuốn địa chí viết về địa phương tương đối kỹ. Trong tác phẩm này Bùi Dương Lịch cố gắng chứng minh rằng đã từng tồn tại một “quốc gia” Việt Thường trong lịch sử. Ông cũng đã có công xác định giới hạn địa lý của quốc gia nói trên. Chúng tôi không có tham vọng chứng minh tiếp nối những luận điểm về “quốc gia” Việt Thường của ông. Ở đây, chỉ xin được nêu một số nét về vùng đất mà trên đó tộc người Việt Thường xưa đã từng sinh sống.